Chuyên mục - Nhân vật Lịch sử
Bài tham luận Bài học kinh nghiệm về huy động sức người, sức của trong tổng tiến công Xuân Mậu Thân năm 1968 ở tỉnh Vĩnh Long

I. Tình hình bối cảnh lịch sử

Thất bại trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ đã chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Vào mùa khô năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam. Đến cuối năm 1965, tổng số lính Mỹ và chư hầu đã lên đến 200.000 quân. Địch dùng quân viễn chinh Mỹ và chư hầu làm nòng cốt và chủ bài cùng với quân ngụy được tăng cường. Chúng thực hiện "Tìm diệt và bình định", ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào Nam, hòng cô lập và đè bẹp cách mạng miền Nam.

Công viên tượng đài Chiến thắng Mậu Thân. Ảnh: Báo Vĩnh Long

Riêng ở Vĩnh Long, không có quân viễn chinh Mỹ, nhưng Mỹ tăng cường trang bị rất mạnh cho chính quyền Sài Gòn, đưa thêm cố vấn và binh chủng kỹ thuật Mỹ đến tăng cường cho lực lượng chỉ huy, chiến đấu và bình định. Đến năm 1966, tổng số binh lính của chính quyền Sài Gòn ở Vĩnh Long lên đến 20.000 tên, trong đó có đến 1.100 cố vấn Mỹ gồm chuyên viên kỹ thuật, hành chính, sĩ quan cấp úy, tá... Ngoài sư đoàn 9, biệt động quân 43 và bảo an địa phương, địch còn trung đoàn 2, đại đội 175 và 114, hải đoàn 23, 513 Mỹ, công binh Mỹ. Ngoài ra, còn có 2D pháo, 10 trực thăng vận, 85 máy bay các loại, xây dựng thêm đồn bót, củng cố chi khu và các căn cứ quân sự quan trọng trong tỉnh với ý đồ tiến hành tràn ngập các hoạt động quân sự. Chúng sử dụng tối đa hoả lực không quân, hải quân và pháo binh để đánh phá, huỷ diệt vùng giải phóng nhằm yểm trợ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn tiến hành bình định, càn quét, quét trắng nông thôn, tiêu diệt lực lượng phong trào cách mạng trong tỉnh và gom dân ra vùng chúng kiểm soát để giành và nắm dân chống lại cách mạng.  

Cụ thể, từ năm 1965 - 1967, đ ế quốc Mỹ cùng chính quyền Sài Gòn thực hiện nhiều cuộc càn quét, đánh phá vùng chữ V và các vùng Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm…Trên tuyến sông Hậu và hệ thống sông Măng Thít, Trà Ôn đối phương sử dụng 4 đến 8 tàu túc trực thường xuyên, bắn phá dọc theo hai bên bờ sông. Đối với vùng sâu, đối phương dùng trực thăng vận, thiết xa vận, pháo binh, kết hợp các cuộc hành quân càn quét đánh phá liên tục, nhằm tách dân ra khỏi kháng chiến, hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng.

Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ chỉ đạo xây dựng ấp xã chiến đấu, phát động phong trào du kích và dân quân tự vệ, chống càn quét, phát động nhân dân bám ruộng vườn, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, ném bom, bắn phá bừa bãi, đưa lực lượng vũ trang tỉnh, huyện ra tấn công giao thông, phá ấp Tân sinh (do địch lập nên để dồn dân vào ở); thu hút và diệt địch ngoài vùng kềm, tăng cường đội biệt động tấn công vào sào huyệt đối phương, kết hợp 3 mũi tấn công, giành thế chủ động, bẻ gãy chiến thuật 2 gọng kềm của đối phương. Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, lực lượng vũ trang vừa tấn công mở tuyến, mở vùng, vừa chống lại những cuộc càn quét của đối phương, giữ vững vùng giải phóng. Quân dân đoàn kết một lòng, "vừa chiến đấu", vừa sản xuất", bám ruộng vườn, đối phương bắn phá ban ngày thì chuyển ra sản xuất ban đêm, đối phương bắn phá trong vườn thì chuyển ra ngoài đồng. Nông dân Vĩnh Long đã kiên trì bám trụ, xây dựng hầm hào, công sự tránh bom đạn để bám đất, giữ làng.

Sau khi đánh giá tình hình của Mỹ ngụy và thắng lợi của nhân dân ta về cả thế và lực, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, vận dụng chủ trương của Khu ủy vào điều kiện cụ thể của tỉnh nhà; toàn quân, toàn dân Vĩnh Long tích cực chuẩn bị các mặt cho cuộc tổng tiến công với quyết tâm cao nhất đánh cho đối phương một đòn quyết định giành những thắng lợi lớn, tạo một bước ngoặt làm chuyển biến tình thế.

II. Công tác chuẩn bị và huy động sức người sức của trong tổng tấn công Xuân Mậu Thân 1968

1. Chủ trương tổng tấn công Xuân Mậu Thân 1968

 Ngày 29/01/1968, Khu uỷ Khu Tây Nam bộ nhận được mật lệnh Tổng tấn công tết Mậu Thân và cho người chuyển lệnh tấn công đến các tỉnh. Với tinh thần tập trung toàn lực tiến hành Tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt đến tận sào huyệt cuối cùng của đối phương ở đô thị và các thị xã miền Nam. Sau khi tiếp thu chủ trương của Khu ủy, các đồng chí trong Ban Chỉ huy Mặt trận họp đánh giá tình hình, xác định quyết tâm, phương án tác chiến.

Tại Vĩnh Long lúc này có gần 3.000 quân Mỹ và chư hầu, bao gồm: Lực lượng cố vấn, 2 đại đội trực thăng, 1 đại đội công binh, 2 giang đoàn xung phong (với 40 tàu chiến các loại). Có trên 21.700 binh lính, gồm: 2 trung đoàn (biên chế đủ) thuộc Sư đoàn 9 bộ binh, Tiểu đoàn biệt động quân số 43 và 5 tiểu đoàn bảo an cơ động, 1 tiểu đoàn cảnh sát dã chiến cùng lực lượng biệt kích, công an, tình báo, mật vụ... chủ yếu đóng tại thị xã Vĩnh Long. Như vậy, thị xã Vĩnh Long là nơi tập trung đông cố vấn Mỹ, quân đội Sài Gòn và nhiều phương tiện chiến tranh, đứng thứ hai ở miền Tây, sau Cần Thơ, là trung tâm điều hành và xuất phát hành quân "bình định" trên chiến trường Vĩnh Long, Sa Đéc.      

Qua đánh giá tình hình, phân tích lực lượng, những mặt mạnh và yếu của ta và đối phương, Phân khu và Tỉnh uỷ Vĩnh Long quyết định tập trung lực lượng tấn công và nổi dậy đánh vào cơ quan đầu não của đối phương, phát động nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kềm.

2. Chuẩn bị lực lượng và kế hoạch tổng tấn công vào nội ô thị xã Vĩnh Long

Khi nhận được mệnh lệnh tấn công, Ban Chỉ huy chung đã được thành lập và bố trí lực lượng sẵn sàng. Ban Chỉ huy chiến dịch chủ trương sử dụng lực lượng và phương án tác chiến gồm: Tiểu đoàn 306, 308 và biệt động thị xã, đây là 3 mũi tiến công chính vào khu vực nội ô thị xã. Tiểu đoàn 306 chủ lực có 800 quân chia thành 3 đại đội bộ binh, đảm trách mũi chủ yếu, phối hợp với 2 đại đội địa phương quân Tam Bình và Trà Ôn có nhiệm vụ đánh từ hướng Phước Hậu tiến vào lộ Cầu Vòng, chiếm cầu Công Xi Heo, cầu Kinh Cục và cầu Khưu Văn Ba, tiến vào nội ô, đánh chiếm toà hành chính tỉnh và tiểu khu Vĩnh Long. Tiểu đoàn 308 có khoảng 250 quân, chia thành 3 đại đội bộ binh, đại đội trinh sát và đại đội hoả lực, có nhiệm vụ từ hướng Long Thanh tiến vào Phường 5, đánh chiếm cầu Thiềng Đức, phối hợp với Tiểu đoàn 306 cùng biệt động thị xã đánh chiếm các mục tiêu còn lại ở nội ô và hỗ trợ cho phong trào quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kềm, làm chủ phố phường, sẵn sàng đánh địch đến tiếp viện.

Lực lượng của tỉnh đảm trách khu sân bay, chia thành 2 hướng: Tiểu đoàn 857 chia thành 2 đại đội: 1 đại đội đặc công và 1 đại đội pháo binh, có nhiệm vụ đánh chiếm toàn bộ sân bay Vĩnh Long, bộ tư lệnh Sư đoàn 9 và Thiết đoàn 2. Tiểu đoàn 2 (Tiểu đoàn 859), quân số khoảng 200 chiến sĩ, có nhiệm vụ đánh chiếm hậu cứ Thiết đoàn 2 và Tiểu đoàn pháo binh Sư đoàn 9 đối phương. Chốt ngã Ba Cần Thơ và chợ Long Châu, chia cắt địch, tạo điều kiện cho các hướng khác đánh chiếm và làm chủ toàn bộ thị xã.

Huyện Châu Thành, đôn du kích lên thành lập 1 đại đội địa phương quân, kết hợp phong trào quần chúng nổi dậy và cơ sở binh vận có nhiệm vụ đánh chiếm bến phà Mỹ Thuận. Mũi binh vận, sử dụng cơ sở trong lòng địch, vận động gia đình binh lính, giáo dục và lôi kéo binh lính làm binh biến khởi nghĩa lập công trở về với nhân dân và làm tan rã hàng ngũ địch một cách rộng rãi. Lực lượng công binh có nhiệm vụ kết hợp với dân quân du kích và phong trào quần chúng xã Song Phú, có nhiệm vụ cắt đứt quốc lộ 4. Đối với các huyện khác căn cứ vào điều kiện thực tế, nơi có điều kiện thì đẩy mạnh tấn công và nổi dậy ở thị trấn; nơi chưa có điều kiện phải đánh kìm chân địch.

Tỉnh ủy cũng chỉ đạo quyết liệt công tác tư tưởng lúc này là: Nắm vững thời cơ, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ lịch sử giao phó, tất cả để đánh giặc, tất cả để thắng giặc, thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh; thần tốc vươn lên vừa đi vừa chạy, vừa chạy vừa củng cố đội hình, vừa ăn vừa bàn bạc, bảo đảm nổ súng đúng giờ "G", ngày "N".

3. Công tác huy động sức người sức của cho chiến dịch mùa khô 1967 - 1968 ở Vĩnh Long

Mùa khô 1967 – 1968, Tỉnh đã phát động mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng, đóng góp sức người, sức của cho cách mạng với tinh thần "tất cả để đánh giặc, tất cả để thắng giặc". Với khẩu hiệu "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng" đồng bào Vĩnh Long tích cực đóng góp sức người, sức của như sau:

- Sức người

Phong trào tòng quân nhập ngũ trong tỉnh tăng lên gấp đôi, gấp 3 so với trước. Ở một số xã của các huyện Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm, Cái Nhum (nay là Măng Thít) quân số đủ thành lập được từ 2 đến 3 đại đội địa phương quân và hàng nghìn người tình nguyện tham gia đi dân công hoả tuyến.

Huyện Tam Bình trong một đợt phát động có gần 1.000 thanh niên tòng quân. Bổ sung cho tỉnh 01 đại đội, thành lập 05 đại đội của huyện, xã nào cũng có trung đội, ấp nào cũng có 01 tiểu đội trở lên. Số dân công tình nguyện lên đến 3.000 người. Xã Hòa Hiệp chỉ trong 01 tuần thành lập 1 đại đội tập trung, đưa 2 trung đội về huyện. Xã Ngãi Tứ, hai lực lượng cấp tốc được động viên để đưa lên trên: toàn bộ du kích xã, ấp, cùng một số thanh niên khác trong xã khoảng 100 người bổ sung vào lực lượng vũ trang chuẩn bị tiến công Thị xã, thị trấn, đồn bốt địch. Phụ nữ làm nhiệm vụ tiếp lương thực, tải đạn phục vụ mũi tiến công quân sự.

Huyện Vũng Liêm, trong đợt phát động có 800 thanh niên tòng quân gia nhập lực lượng vũ trang, số thanh niên tình nguyện gia nhập các lực lượng của tỉnh, huyện, xã đều vượt chỉ tiêu, đủ để thành lập 03 đại đội địa phương quân sẵn sàng cơ động cho tỉnh, rút 50% du kích ở các xã thành lập 02 tiểu đoàn cho huyện, hàng nghìn nam nữ thanh niên đi dân công hỏa tuyền. Đến cuối tháng 10/1967, Vũng Liêm đã thành lập xong 03 đại đội sẵn sàng chiến đấu và cơ động chi viện theo yêu cầu của cấp trên. Tháng 12/1967, huyện hoàn thiện các trung đội công binh, đặc công, trung đội biệt lập, 14 trung đội du kích. Công trường quân giới huyện sản xuất nhiều lựu đạn trang bị cho bộ đội.

Huyện Trà Ôn, thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang của huyện mình và vào du kích xã, ấp, thành lập trung đội an ninh vũ trang và đội bảo vệ huyện. Đồng thời Trà Ôn còn góp phần xây dựng tiểu đoàn 312, trung đoàn 3 chủ lực quân khu. Ngoài ra, hàng trăm thanh niên được đưa đi làm nhiệm vụ thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến.

Huyện Bình Minh, thanh niên gia nhập các đội du kích xã, ấp. Có xã từ 2 tiểu đội du kích phát triển lên 2-3 trung đội. Lực lượng vũ trang tập trung của huyện từ 01 trung đội phát triển lên đến đại đội.

Huyện Long Hồ, giao 02 đại đội địa phương quân cho tỉnh, du kích các xã lên thành lập được gần 02 đại đội mới. Một số cán bộ chủ chốt ở xã và huyện cũng được tăng cường cho tỉnh.

Công tác vận động thanh niên ghi tên tòng quân vào bộ đội, du lích đánh giặc được hưởng ứng tích cực. Đặc biệt, nữ thanh niên tình nguyện vào thanh niên xung phong tiếp lương tải đạn ra tiền tuyến.

Toàn dân, toàn quân ta sáng tạo vận để chuyển vũ khí nhất là đạn và chất nổ từ miền Tây và biên giới Campuchia về tỉnh. Sưu tầm bom đạn pháo lép của địch để lấy thuốc nổ cho công trường làm lựu đạn, thủ pháo phục vụ chiến dịch.

Các chị các mẹ ngày đêm nấu cơm, gói bánh, tiếp lượng thực, nước uống, thuốc men hết lòng nuôi bộ đội, thương binh. Các mẹ, các chị còn tập trung may quân trang mới cho chiến sĩ tham gia địa phương quân, lực lượng vũ trang. Bằng cách bán công khai hay ngụy trang khéo léo, các mẹ các chị vận chuyển vũ khí vào thị xã. Hơn thế nữa, các mẹ, các chị còn dùng tinh thần, ý chí, tình cảm của mình cảm hóa, giúp đỡ lính ở các đồn bót theo lý tưởng cách mạng hoặc từ bỏ chiến tranh quay về quê hương.

- Sức của

Mặc dù điều kiện khó khăn, nhưng hai năm 1965 – 1967, nhân dân Vĩnh Long đã sôi nổi đóng góp, hưởng ứng cuộc vận động đóng góp lúa gạo, thuốc men, ghe xuồng, trâu bò… phục vụ kháng chiến. Đồng bào nô nức kẻ đội, người gánh, cộ bò, cộ trâu, dùng ghe xuồng từ nhiều hướng vận chuyển lương thực, vật dụng cần thiết chuyển giao đến địa điểm tập trung, với tâm trạng hồ hởi, náo nức và một niềm tin mãnh liệt vào cách mạng.

Tổng số quyên góp cho chiến dịch mùa khô 1967 - 1968 ở Vĩnh Long trên 1.000 tấn lương thực và nhiều phương tiện phục vụ kháng chiến. Gia đình không có điều kiện thì góp năm ba giạ lúa, người khá giả thì 10 đến 20 giạ. Ngoài góp lúa gạo, có người góp cho kháng chiến đôi bông tai đang đeo, có người chia 2, chia 3 gia tài của mình hiện có góp cho cách mạng. Các huyện đều có đóng góp tích cực điển hình như:

Huyện Trà Ôn: gia đình ông Sáu Thợ (Hoà Bình), mặc dù nhà đang hết gạo nhưng vẫn chạy đi vay bằng được 10 giạ lúa để góp cho cách mạng; bác Mười Tòng (Hòa Bình) cho mượn 1.000 giạ lúa; anh Tư Vĩnh (Vĩnh Xuân) hiến 01 con bò.

Huyện Cái Nhum: gia đình Sáu Đắc (Mỹ An) hiến nửa tài sản của mình; chị Hai Trầu vận động tiếp tế lợn gà, trâu bò, bánh trái bằng xuồng ghe, gánh bộ; ông Sáu Đắc (Mỹ An),

Huyện Tam Bình: ông Chín Thoại (Mỹ Lộc), bác Tống Văn Thuận (Mỹ Lộc) hiến nửa tài sản của mình cho cách mạng; ông Chín Hiền (Mỹ Lộc) góp 50 giạ cùng 01 con bò, 01 chiếc ghe; chị Hai (ấp 4 xã Mỹ Lộc) hiến cả đôi bông tai cưới và 02 chỉ vàng đang đeo cho cách mạng; ông Tư Giỏi (ấp 10, xã Hòa Hiệp) hiến trâu, bò,... Ngoài ra, Tam Bình còn bảo đảm tốt hậu cần và phục vụ chiến đấu. Huyện đã đưa hàng nghìn dân công có cả ghe máy phục vụ tiếp lương, tải đạn, chuyển thương binh,... Song Phú 27.000 giạ lúa, Mỹ Lộc cho mượn 40 bộ ván để bắt cầu, 50 ghe, 400 giạ gạo. Mỗi ngày huyện cung cấp thêm 5.000 đòn bánh tét, từ 3 đến 7 con trâu bò, 400 lít xăng.

Huyện Vũng Liêm: ông Hào Dẹp (Hiếu Thành) hiến 1 bộ cột nhà bằng gỗ quý trị giá trên 150 giạ lúa và 1 chiếc vòng bằng vàng; Nhân dân 9 xã đóng góp 400.000 giạ lúa; ông Phan Văn Thảo hiến 100 giạ lúa; chị Lê Thị Yến hiến đôi hoa tai kỷ vật ngày cưới.

 

Huyện Bình Minh đã góp 3.786 giạ lúa, 6 đôi trâu, bò, 21 ghe xuồng, 54 chỉ vàng; bà Ba Chậm, bà Hai Sanh hiến vàng; ông Hai Rặng, ông Năm Lặc, ông Hai Que hiến trâu, bò,... 

Nhân nhân các vùng Châu Thành, Thị xã Vĩnh Long, Thị xã Sa Đéc cũng gửi tiền, thuốc men… Nhân dân ai cũng muốn đóng góp thật nhiều cho bộ đội ăn no, đánh thắng.

Phong trào quần chúng nhân dân đóng góp cho chiến dịch phát triển rầm rộ; người người, nhà nhà ai nấy đều tích cực ủng hộ của cải, trâu bò, vàng ròng, lúa gạo cho cách mạng. Trong đợt vận động sức người, sức của cho chiền dịch Mậu Thân 1968 này, huyện Vũng Liêm (lúc bấy giờ thuộc Trà Vinh) được Quân khu tặng cờ luân lưu "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến toàn diện" và "dẫn đầu phong trào đảm phụ toàn tỉnh Trà Vinh". Hai xã Trung Ngãi và Hiếu Thành nhận cờ "mười năm vẻ vang" của Mặt trận giải phóng miền Nam; xã Trung Hiệp đi dầu 02 năm liền làm tốt công tác đảm phụ miền Tây.

III. Kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Vĩnh Long

1. Kết quả, ý nghĩa

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tuy chưa đạt được những mục tiêu đề ra, nhưng quân và dân ta đã giành được thắng lợi vô cùng quan trọng. Quân ta đã tấn công vào cơ quan đầu não của địch, chiếm tòa hành chính tỉnh và nhiều cơ quan đầu não; đánh hủy diệt sân bay Vĩnh Long; đêm đánh chiếm mục tiêu, ngày đánh địch phản kích. Ta đã chiếm lĩnh nội ô thị xã Vĩnh Long trong 6 ngày đêm liền. Ở ngoại ô, bằng ba mũi giáp công, quân và dân ta bức diệt đồn bót, mở toang vùng ven, làm chủ bến phà Mỹ Thuận, cắt đứt giao thông trên quốc lộ 4 trong 22 ngày đêm. Các huyện đẩy mạnh phong trào ba mũi giáp công, bức diệt, bức rút nhiều đồn bót, phá bình định nhiều nơi, lột trọc một số yếu khu, chi khu. Chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã đánh thiệt hại nặng quân Mỹ đến phản kích, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng.

Qua 2 đợt Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 (từ ngày 30 tháng 01 đến tháng 5/1968), ta loại khỏi vòng chiến đấu 11.180 tên, bắt sống 380 tên; đánh thiệt hại nặng trung đoàn 14 và 16 của sư 9, biệt động quân 43 bị mất sức chiến đấu, phần lớn phòng vệ dân sự bị rã ngũ, diệt 2 đại đội biệt kích 5 và 6, làm tan rã bộ máy cảnh sát, đánh thiệt hại nặng thiết đoàn 2 xe bọc thép M113, phá hủy 37 xe quân sự; 4 khẩu pháo 105 ly; trên 60 máy bay trực thăng; bắn chìm 50 tàu; bức rút 119 đồn bót, giải phóng 15 xã, 319 ấp. Sau sự kiện "Tết Mậu Thân" tương quan lực lượng và cục diện chiến trường có nhiều thay đổi. Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược, ngồi vào bàn đàm phán với lực lượng của ta. Tinh thần quân đội Sài Gòn hoang mang, dao động.

Thắng lợi Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân Vĩnh Long thể hiện rõ nhiệt tình cách mạng với tinh thần "Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng" của quân và dân Vĩnh Long. Có thể nói đây là một thắng lợi của thế bất ngờ về chiến lược, đánh vào tận cơ quan đầu não, sào huyệt của địch. Tuy quân địch còn đông, hoả lực của chúng còn rất mạnh, nhưng chúng đã bị tê liệt, là điều kiện cho quân và dân Vĩnh Long tiến lên giành những thắng lợi lớn hơn.

Trong cuộc Tổng công kích, tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968, Đảng bộ, quân và dân tỉnh Vĩnh Long đã góp phần giáng đòn sấm sét, làm cho địch tan rã nhiều mảng, góp phần làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai; đập tan ý chí và cố gắng chiến tranh xâm lược, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh. Thắng lợi này là kết quả của Tỉnh ủy Vĩnh Long đã quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào điều kiện cụ thể ở địa phương; phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết, thống nhất, toàn dân một ý chí, quân với dân một ý chí, tất cả đều đánh giặc, tất cả để thắng giặc.

2. Bài học kinh nghiệm

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 không đạt được như ý định ban đầu đề ra, nhưng thắng lợi Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân Vĩnh Long đã đi vào lịch sử tỉnh nhà như một nét vàng son chói lọi, là bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của tỉnh nhà và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.

Thứ nhất, tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đánh dấu sự thất bại của chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, đánh bại các kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, làmngụy quyền lung lay. Đó là thắng lợi của một chủ trương đúng đắn, táo bạo, kịp thời của toàn Đảng, toàn quân dân ta, làm thay đổi thế bố trí chiến lược, mở ra cục diện mới trên chiến trường, tạo thế và lực mới trong việc giành thắng lợi quyết định trong tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Thứ hai, thắng lợi Mậu Thân là lời khẳng định sức mạnh của việc nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh cấp trên, tinh thần chủ động sáng tạo, tự lực, tự cường của quân dân ta. Dứt điểm các mục tiêu trong nội ô như kế hoạch đã đề ra, còn những điểm yếu b\về chuẩn bị lực lượng, chiến trường, tổ chức chỉ huy, kế haoch5 tác chiến

Thứ ba, chăm lo đến đời sống cho quân dân, quan tâm đặc biệt vấn đề phân biệt giai cấp. Những việc làm thiết thực trong đời sống sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến tâm tư, tình cảm, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nước nhà. Từ đó làm nền tảng để nhân dân sẵn sàng phục vụ kháng chiến (tích cực tham gia chiến đấu, cung cấp lương thực, tải đạn, cứu thương…), phục vụ Tổ quốc ngày nay (tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh nhân dân, quốc phòng toàn dân…)

Thứ tư, chú trọng phát triển sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, nhất là nông dân, công nhân và trí thức, một đội quân hùng mạnh của tình nhà. Ngoài ra, quan tâm đúng mức đối với Lực lượng thành niên. Lấy lực lượng thanh niên làm lực lượng nòng cốt. Vận động thanh niên dũng cảm cứu nước và ngày nay hăng hái tham gia trong trào, nhạy bén, sáng tạo, xung phong trong mọi hoạt động, luôn giữ vững quan điểm, tinh thần cảnh giác. Tình yêu thương của các mẹ, các chị: lương thực, may quân trang cấp tốc cho các đơn vị bộ đội mới thành lập. Tham gia đấu tranh chính trị, áp đảo tinh thần địch, lo hậu cầh, sàn xuất.

Thứ năm, công tác tuyên truyền vận động có ý nghĩa quan trọng và vấn đề có ý nghĩa quyết định là công tác chính trị tư tưởng, giác ngộ, hiểu đúng, đủ đường lối, chủ trương của Đảng, lý tưởng cách mạng của Nhà nước.

Bên cạnh đó, ta còn có những tiềm lực to lớn nhưng không tính được bằng con số, đó là tinh thần yêu nước, chí căm thù của nhân dân, là ý chí quyết tâm đánh giặc và đánh thắng giặc, cùng với sức mạnh tổng hợp to lớn đánh địch bằng "hai chân, ba mũi" trên khắp 3 vùng chiến lược.

Tỉnh ủy chủ trương trước hết là làm thông suốt tư tưởng và xây dựng lòng quyết tâm từ trong nội bộ Đảng ra đến quần chúng; mở đợt phát động sâu rộng từ vùng giải phóng đến các vùng yếu, vùng kềm, thị xã, thị trấn nhằm cổ vũ phong trào quần chúng nổi dậy, động viên sức người, sức của cho phía trước; củng cố, bổ sung lực lượng vũ trang tập trung, sẵn sàng bước vào chiến dịch mùa khô với tinh thần quyết chiến, quyết thắng.

Chủ trường, đường lối, chính sách đúng đắn, công tác tư tưởng kịp thời sẽ góp phần giữ vững nền độc lập, phát triển đất nước bền vững. Càng tự hào về truyền thống đấu tranh của dân tộc Việt Nam, Đảng bộ, quân và dân Vĩnh Long càng nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ; nhất là trong giai đoạn hiện nay, quyết tâm cùng cả nước thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế vững mạnh, thực hiện mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội, dân chủ, công bằng và văn minh".

            IV. Kết luận

            Tóm lại, qua cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 (từ 30/1 đến tháng 5/1968), hòa cùng với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của cả nước, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Vĩnh Long đã góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ngừng ném bom ở miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán Hội nghị Paris.

Kim Phượng

Quay lại In bài viết

Các tin liên quan

Tin mới đăng

Liên kết website

Thông tin truy cập

Đang xem: 72
Hôm nay: 3426
Hôm qua: 5077
Trong tuần: 13847
Trong tháng: 165532
Tất cả: 4347554